Thứ ba 31/12/2012 Liên hệ
Đăng ngày: 14/05/2009
Lượt xem: 10104

 PHẦN I:                                             ĐẶT VẤN ĐỀ

 

            Tiếng Anh là công  cụ giao tiếp quan trọng trong việc hoà nhập với cộng đồng quốc tế và khu vực, tiếp cận với những thông tin khoa học, kỹ thuật, văn hoá xã hội cũng như các sự kiện chính trị trên toàn thế giới.Đất nước ta đang trên đường đổi mới, chúng ta đang quyết tâm công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, mở rộng quan hệ với nhiều nước khác. Đặc biệt sau khi Việt nam gia nhập WTO, tiếng Anh được sử dụng ngày càng rộng rãi hơn ngay cả ở chính tại Việt nam. Do vậy việc dạy và học ngoại ngữ nói chung  và môn tiếng Anh nói riêng đã được coi trọng và giảng dạy một cách nghiêm túc trong các trường PTCS và PTTH

            Nhận thức được tầm quan trọng đó, chúng tôi  những giáo viên dạy Anh văn ở cấp THCS có trách nhiệm trang bị cho các em học sinh vốn kiến thức cơ bản, vững vàng để các em có thể học tốt môn tiếng Anh ở cấp THPT hay có thể giao tiếp những câu thông thường với người nước ngoài.Chúng tôi luôn cố gắng vươn lên về chuyên môn nghiệp vụ, học hỏi kinh nghiệm của các bậc thầy, các đồng nghiệp, cũng như tìm tòi sáng tạo những phương pháp giảng  dạy có hiệu quả, hấp dẫn học sinh, không ngừng nâng cao chất lượng các giờ dạy. Trong khuôn khổ bài viết này tôi xin đề cập đến vấn đề “ Làm thế nào để phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho học sinh Khối lớp 8”

            Sau những lần được tập huấn về việc đổi mới phương pháp giảng dạy, tham gia lớp bồi dưỡng chuyên môn hè, tham dự các tiết thao giảng của đồng nghiệp cũng như bản thân tự tìm tòi tôi rút ra được một số kinh nghiệm trong việc dạy kỹ năng nói tiếng Anh cho học sinh với các đối tượng khác nhau và đã thu được một số kết quả nhất định.

            Sau đây tôi xin trình bày rõ nội dung này để các đồng nghiệp tham khảo và góp ý thêm.

 

PHẦN II:                                            NỘI DUNG

 

I. Tầm quan trọng của việc phát triển kỹ năng nói  tiếng Anh cho học sinh LỚP 8

            “Nói “ là một trong bốn kỹ năng quan trọng trong việc dạy tiếng Anh để học sinh có khả năng thực hành giao tiếp nhanh và đạt hiệu quả cao nhất.

            Học sinh phổ thông của ta còn yếu cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc , viết. Nhất là các em rất ngại nói tiếng Anh trong giờ học do nhiều nguyên nhân khác nhau như: tâm lý ngượng ngùng, dè dặt, ngại các bạn cười khi mình nói sai; do lớp học đông, giáo viên ít có thời gian rèn luyện kỹ năng cho mỗi học sinh. Tổ  chức luyện nói tốt sẽ giúp khắc phục bớt những hạn chế trên.

            Kỹ năng nói giúp cho học sinh có điều kiện rèn luyện nhiều hơn trong một tiết học.thực hiện được nguyên tắc trong mỗi giờ học ngoại ngữ : Ôn cũ - luyện mới . Mọi kiến thức mới đều được gợi mở dần dần từ những kiến thức đã được học ở bài trước làm cho học sinh không sợ bài mới.

            “ Học thầy không tày học bạn “ , trong khi luyện nói học sinh có thể học hỏi lẫn nhau, sửa lỗi cho nhau, tự do nói theo ý của mình mà không ngại thầy cô giáo.

            Thông qua thực hành nói học sinh tiếp thu kiến thức một cách chủ động, khắc phục được sự ức chế khi trong lớp chỉ có một số học sinh giỏi tham gia phát biểu, do vậy sẽ lôi cuốn được toàn thể học sinh trong lớp tham gia hoạt động kể cả các em học trung bình hoặc yếu.

            Tăng cường khả năng ứng xử của học sinh trong các tình huống khác nhau, gây hứng thú, tự tin mạnh dạn cho học sinh khi đã thực hành giao tiếp bằng  tiếng Anh. giờ học sẽ trở lên vui vẻ, sôi nổi và đạt hiệu quả cao.

 

II. Những thuận lợi và khó khăn khi luyện nói cho học sinh

1/ Thuận lợi

Học sinh với bản chất hồn nhiên sẵn sàng tham gia vào các hoạt động của giờ học khi đã bị cuốn hút vào các hoạt động.

Công nghệ thông tin đang rất phát triển ở Việt nam, các em sớm được tiếp xúc với máy tính, với mạng Internet và thu nhận được nhiều thông tin từ đây.

2/ khó khăn

            Trong lớp có nhiều đối tượng  học sinh khác nhau mà đa phần là học sinh trung bình và yếu môn ngoại ngữ.

Hoạt động luyện nói thường được thực hiện theo cặp, nhóm nên lớp  học dễ ồn ào mất trật tự.

Thầy , Cô giáo không bao quát hết được tất cả học sinh nên một số em cá biệt lợi dụng cơ hội nói chuyện bằng tiếng việt hay làm việc riêng.

Giáo viên không thể phát hiện và sửa hết lỗi của các em học sinh

Do vậy đòi hỏi giáo viên phải có phương pháp sư phạm tốt, chủ động sáng tạo, luôn cải tiến phương pháp luyện tập bằng nhiều hình thức khác nhau, nhiều dạng bài tập khác nhau phù hợp cho từng nội dung bài học để gây hứng thú và động viên tất cả học sinh nhiệt tình luyện tập.

III .Phương pháp tổ chức thực hiện kỹ năng nói

1-     Giới  thiệu mục đích và cách luyện tập kỹ năng nói với học sinh. Nói có thể luyện tập cá nhân hoặc thực hành theo cặp, nhóm. Nếu thực hành theo cặp, nhóm thì giáo viên phải phân chia cặp, nhóm trước để học sinh biết mình phải luyện tập với ai. Giáo viên cũng phải yêu cầu kỷ luật khi luyện tập.

2-     Thực hành nói phải có tính hệ thống, liên tục,  theo phương châm từ dễ đến khó.

3-     Tuỳ theo tình huống và yêu cầu rèn luyện mà giáo viên cần chuẩn bị những hình thức rèn luyện phù hợp với nhiều đối tượng học sinh.

4-     Thực hiện phần luyện nói trong từng phần của bài học.

v     Phần gây hứng thú đầu giờ ( warm up ) : Giáo viên có thể cho từng cặp học sinh hỏi đáp về thời tiết, ngày tháng, tình hình lớp học, về việc đã làm trong ngày nghỉ...........

v     Phần giới thiệu ngữ liệu mới ( presetation )  : Kỹ năng nói thường được thực hiện trong phần giới thiệu ngữ cảnh ( set the scene )  và phần giới thiệu cấu trúc mới qua thủ thuật Dialogue build , Concept checking.

v     Phần luyện tập ( Practice ) : Cần tuân thủ phương châm từ dễ đến khó. Giáo viên đưa ra các loại hình bài tập như : Bài tập thay thế ( Substitution drills ), dùng Prompts hay picture cues hay các trò chơi ngôn ngữ để học sinh hình thành cấu trúc vừa học.

v     Phần nói tự do ( Production ) : Giáo viên tạo tình huống, ngữ cảnh, chủ đề để học sinh  thực hành nói theo cặp hay nhóm. Ở phần này giáo viên có thể dùng tranh, ảnh trong và ngoài sách giáo khoa hoặc các chủ đề gần gũi với các em như tả trường của em, tả nhà của em , tả bạn em ......... sao cho vừa đảm bảo yêu cầu của bài, vừa đem lại hiệu quả, kích thích được học sinh nhiệt tình luyện tập

5-     Những điểm cần lưu ý khi thực hành kỹ năng nói

v     Luyện nói là việc tạo cho học sinh những cơ hội giao tiếp gần giống với đời thực. Giáo viên cần khuyến khích cho các em học sinh làm theo phương châm thử nghiệm, chấp nhận mắc lỗi. không nên tạo cho các em áp lực, các em sẽ mang nặng tâm lý sợ mắc lỗi.

v     Trong luyện tập các giáo viên có hai chức năng chính :một là cung cấp tư liệu, giúp đỡ và giải đáp những vấn đề khó về ngữ liệu và kiến thức mà học sinh gặp phải; Hai là theo dõi, lắng nghe, ghi nhận các lỗi học sinh mắc phải trong quá trình thực hành để sửa trước lớp sau tiến trình thực hành nói của học sinh.

v     Giáo viên cần sử dụng tối đa thời gian trên lớp, tạo mọi cơ hội  để học sinh có thể sử dụng ngữ liệu đã  học một cách có nghĩa, có hiệu quả.

v     Chọn chủ đề dễ phát triển, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi và mang tính thời sự như về sinh hoạt hàng ngày, về bộ phim hay đang được mọi người theo dõi trên truyền hình, về các môn thể thao yêu thích của các em hoặc về người thực, việc thực.

v     Giáo viên có thể đặt vấn đề có tính chất phản diện để học sinh tranh luận cho thêm phần sôi nổi.

v     Trên cơ sở rèn luyện trên lớp, giáo viên cần khuyến khích học sinh tự luyện tập ở nhà, và thực hành thường xuyên khi có điều kiện ví dụ như gặp khách nước ngoài, có bà con từ Mỹ, Anh, Úc trở về ( nhất là các em bé hoặc bạn bằng tuổi).

IV.Các loại hình bài tập đựơc sử dụng cho việc phát triển kĩ năng nói

1-      Yes-no question : Câu hỏi để đoán thông tin

+ Giáo viên đưa ra tiêu đề để luyện tập.

+ Giáo viên cung cấp một số từ gợi ý, kiến thức nền, giáo viên làm mẫu rồi cho học  sinh nói tự do.

2-      Ask and answer : đặt câu hỏi và trả lời

+ Học sinh có thể tự thực hành theo cặp

+ Nếu thực hành theo nhóm thì nhóm trưởng đặt một số câu hỏi, các thành viên khác của nhóm có nhiệm vụ trả lời.

+ Giáo  viên có thể tổ chức như một cuộc thi : Các câu trả lời được tính điểm dựa trên độ chính xác về ngôn ngữ, cũng như các thông tin.

3-      Dialogue :

+ Dialogue build : Giáoviên có những từ gợi ý cơ bản hoặc tranh ảnh thể hiện -> học sinh xây dựng đoạn hội thoại rồi thực hành nói

+ Disapearing dialogue :  Học sinh tập đàm thoại theo văn bản đã được giáo viên xoá đi một từ, ngữ ( mỗi gạch là một từ )

Ví dụ :              S1 : What ______  ______ like ?

                           S2 : I ______  ______ very much.

            -> Khi học sinh đã nói đạt yêu cầu thì giáo viên xoá hết lời thoại đã viết, trên bảng chỉ còn những nét gạch -> học sinh tự nói lại lời thoại một cách đầy đủ.

   Như ví dụ trên chỉ còn là :

                           S1 : _____  _____  _____  _____ ?

                        S2 : _____  _____  _____  _____ .

4-      Substitution drills :

+ Thay thế lời thoại hay vấn đề ngữ pháp, từ vựng đã học bằng những lời thoại, vấn đề ngữ pháp, từ vựng mới.

+ Giáo viên yêu cầu lần lượt học sinh nhắc từ, ngữ mới để bạn khác luyện tập theo kiểu dây chuyền.

+ Giáo viên có thể dùng bảng từ : Viết sẵn từ lên tờ bìa cứng rồi giơ nhanh cho học sinh quan sát. Yêu cầu học sinh thay thế từ đó vào vị trí cần thiết trong câu mẫu để tạo thành câu mới.

5-      Chain drills :

+ Giáo viên nêu chủ đề cần luyện tập.

+ Giáo viên bắt đầu bằng việc đặt một câu hỏi cho học sinh nào đó . Học sinh         đó trả lời câu hỏi của giáo viên xong có nhiệm vụ đặt một câu hỏi khác cho một           học sinh tiếp theo. Học sinh này có nhiệm vụ trả lời và đặt tiếp một câu hỏi cho          bạn thứ ba, cứ thế hình thức luyện tập dây chuyền này được tiếp tục.

+ Các câu hỏi theo chủ đề nhưng có thể không cần phát triển thành lời thoại liền ý.

6-      Picture stories :

+ Giáo viên sưu tập các bộ tranh, ảnh có nội dung phù hợp với chương trình đã  học.

+ Giáo viên làm mẫu, sắm các vai trong chuyện tranh, dùng gợi ý ở tranh làm lời cho nhân vật. Học sinh quan sát và sau đó tập đóng vai theo các nhân vật trong tranh.

+ Giáo viên có thể gợi ý bằng những câu hỏi như :

               “ What is happening in picture A ?”

               “ What do you see in picture B ?’’

+ Giáo viên có thể yêu cầu học sinh sắp xếp lại tranh theo đúng trật tự tình   tiết của câu chuyện. -> Sau đó học sinh nhìn tranh kể lại nội dung chính.

+ Giáo viên có thể yêu cầu học sinh lắp ghép tranh với lời kể  : Ghi lời kể     vào các tấm bìa cứng, xếp tranh và lời kể lộn xộn -> Yêu cầu học sinh quan sát       tranh và ghép với lời kể sao cho trật tự của tình tiết dạy trong tranh cũng là trật   tự của lời kể ghi trên tấm bìa đó

7-      Groupings :

+ Giáo viên phân chia lớp thành nhiều nhóm. Phát cho mỗi nhóm trưởng một bản danh sách có ghi tên các từ, ngữ theo chủ điểm .Nhiệm vụ của các bạn khác là phải bổ sung thêm các từ, ngữ khác cho mỗi chủ điểm đó.

+ Nhóm trưởng điều khiển để các thành viên trong nhóm tìm được càng nhiều từ, ngữ theo điểm bao nhiêu càng được nhiều điểm bấy nhiêu (mỗi từ phải kèm theo một định nghĩa đúng ).

Ví dụ : Rooms in the house.

1.      Living room            : The place where we often welcome our guests

2.      Bedroom           :

3.      Dining room            :

4.      Kitchen                  :

5.      Bathroom   :

8-      Charactors :

+ Trò chơi đóng vai nhằm củng cố những hiểu biết của học sinh về chức năng của một cấu trúc nào đó trong những hoàn cảnh tự nhiên hơn.

+ Phân chia mỗi nhóm đóng một cảnh theo chủ đề giáo viên yêu cầu :

Ví dụ : -Thu lượm thông tin cho một kỳ nghỉ trọn gói.

 - Phàn nàn muốn đổi một món quần áo mới mua hôm trước.

             - Chuyện ở một phòng khám đa khoa...........

9-      Mapped dialogue :

+Giáo viên giới thiệu ngữ cảnh và yêu cầu của hoạt động.

+ Giáo viên viết một vài từ gợi ý hoặc vẽ hình lên bảng.

+ Giáo viên trình bày bài hội thoại dựa vào các từ gợi ý hoặc hình vẽ đó.

+ Rèn luyện bài hội thoại với cả lớp.

+ Học sinh luyện tập theo cặp.

10-  Discussion: (Thảo luận dành cho học sinh đã có kiến thức tương đối cao )

+ Giáo viên nêu vấn đề cần thảo luận ( Ví dụ : về bóng đá, về một người nổi tiếng nào đó......... )

+ Các nhóm bàn bạc, thảo luận, trao đổi quan điểm của mình trong vài phút. Sau đó một thành viên trong nhóm đại diện báo cáo lại ý kiến chung của cả nhóm. cuối cùng để học sinh của cả lớp cùng thảo luận về vấn đề đó.

 

V. Minh hoạ một tiết thực hành kỹ năng nói :

                    

Grade 8   -   Unit 7     : My neighborhood

Speak

Kỹ năng nói được thực hành qua từng bước lên lớp bằng các dạng bài tập sau

1-      Warm up : Kim’s game

- Giáo viên chia lớp học ra làm hai đội , đội A và đội B.

- Giáo viên để một số vật liên quan đến bưu điện như phong bì, bức thư, tấm bưu thiếp gói hàng, báo, tạp chí, tem.........trên bàn cho cả lớp quan sát. Sau một phút đem cất đi rồi cho các đội lần lượt đọc tên các đồ vật bằng tiếng Anh. Đội nào đến lượt mình mà không đọc ra được từ đúng hay đọc từ đã có trước đó là đội thua cuộc.Đội còn lại là đội thắng cuộc. ( Trong khi học sinh kể ra  từ nào đúng thì giáo viên có thể xác nhận bằng cách giơ vật đó ra và nhắc lại bằng tiếng Anh để cho tất cả học sinh có thể nhớ được ).

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 2.5pt; margin-right: 0cm; margin-bot

Lượt truy cập: 3121803